Lão Hòa Thượng Hải Hiền 112 tuổi tự tại Vãng Sinh

Chương 23: Ôn Hòa Hậu Đạo

trước
tiếp

Ôn, lương, cung, kiệm, nhượng là năm đức hạnh của nhà Nho khởi xướng: Ôn hòa, lương thiện, nghiêm túc, tiết kiệm, khiêm tốn. Học trò của Khổng Tử từ trong cuộc sống hằng ngày của Khổng Tử nhìn thấy được Ngài đầy đủ ôn, lương, cung, kiệm, nhượng năm đức này, chúng đệ tử của lão Hòa thượng Hải Hiền lúc nhớ ra phẩm hạnh một đời của lão Hòa thượng một cách tường tận, ca ngợi lão Hòa thượng viên mãn đầy đủ năm loại mỹ đức này.

Đức hạnh và tự tính tương ưng, pháp thế gian, pháp xuất thế gian đều không ngoại lệ. Quốc sư Hiền Thủ nhà Đường nêu lên bốn loại đức mà tất cả chư Phật Bồ Tát thị hiện, đó đều là tùy duyên diệu dụng vô phương đức, uy nghi trụ trì hữu tắc đức, nhu hòa chất trực nhiếp sinh đức, phổ đại chúng sinh thọ khổ đức”. Bốn loại đức so với ngũ đức của Phu tử nói phía trước còn viên mãn hơn, còn sâu rộng hơn.

“Tùy duyên diệu dụng” là có thể tùy thuận tất cả chúng sinh. “Uy nghi hữu tắc” chính là làm ra phẩm hạnh, đi đứng nằm ngồi không mất uy nghi, làm được tận thiện tận mỹ. Đây là thân giáo không phải ngôn giáo, trong đây bao gồm ôn lương cung kiệm nhượng. Thứ ba là “nhu hòa chất trực”. Đối với bất kỳ người nào cũng gương mặt tươi cười, dùng tâm hoan hỷ tiếp chúng, đây là nhu hòa, chất trực là chân tâm, chân thành tâm. Bên trong phải dùng chân tâm, bên ngoài phải nhu hòa, tiếp xúc với người như vậy có thể khiến người sinh tâm hoan hỷ. Không có ai từng thấy Hòa thượng Hải Hiền nổi giận, suốt cả đời Ngài, không có dùng tâm thái kiêu mạn đối người tiếp vật, Ngài khiêm cung, nhường nhịn, vô cùng phi thường. Đối với người bắt nạt Ngài, mạo phạm Ngài, Ngài sẽ bỏ qua, Ngài không để trong tâm. Sống trên thế gian này, vất vả cực nhọc “thay chúng sinh khổ”, làm ra một kiểu mẫu tốt.

Một đời này của Hòa thượng Hải Hiền, đi đứng nằm ngồi, sinh hoạt, làm việc, đối người tiếp vật, viên mãn đầy đủ bốn đức này. Mọi người tiếp xúc với Ngài, đều sẽ cảm thấy rất dễ chịu, rất vui vẻ.

Mùa xuân năm 1992, một người thanh niên vừa tham gia công tác nhìn thấy người cậu cầm máy niệm Phật màu đen đang nghe Phật hiệu “A Di Đà Phật”, anh ấy rất hiếu kỳ, bèn hỏi cậu: “Cái này là mua ở đâu?”

“Không phải mua, là thỉnh ở chỗ Hòa thượng Hải Hiền của chùa Phật Lai”.

Người thanh niên nghe rồi, cũng muốn có một cái, thế là cậu của anh ấy bèn dẫn anh ấy cùng đến chùa Phật Lai.

Lúc này lão Hòa thượng sống ở trong một gian phòng lợp ngói rất thấp phía tây đại điện của hậu viện, người thanh niên lần đầu tiên gặp được lão Hòa thượng Hải Hiền ở đây. Chỉ thấy lão Hòa thượng vóc dáng cao cao, gương mặt hiền từ, tuy không nói nhiều nhưng làm cho người khác cảm giác rất thân thiết.

Hai người sau khi nói rõ ý mục đích đến của họ, lão Hòa thượng nghiêm túc suy nghĩ trong chốc lát, sau đó cười nói: “Hình như là vẫn còn một cái đó, tôi tìm thử xem”. Nói xong, thì lục lọi khắp nơi trong phòng và đã tìm được.

Kỳ thực người thanh niên này chẳng qua là vì để thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình, một máy niệm Phật nhỏ đối với anh ấy mà nói thật sự có hay không cũng không quan trọng. Nhưng lão Hòa thựng Hải Hiền lại nghiêm túc như thế, Ngài đã bỏ ra công sức nhiều vậy cuối cùng đã tìm được một máy. Lão Hòa thượng hết sức chu đáo, Ngài lắp pin vào máy niệm Phật, thử xem chính xác có âm thanh không, xong mới đem máy niệm Phật đưa tận tay người thanh niên này, song còn dặn dò anh ấy về nhà phải nghe nhiều, niệm nhiều, sau cùng, lão Hòa thượng còn nói cho anh ấy một số đạo lý Phật pháp và lợi ích của việc niệm Phật.

Người thanh niên một mặt nghe, một mặt đã gác bỏ những lời nói của lão Hòa thượng Hải Hiền ra ngoài trí nhớ rồi, anh ấy chỉ là cảm thấy lão Hòa thượng vô cùng thân thiết. Lão Hòa thượng Hải Hiền gương mặt hiền từ, ngữ điệu thân thiết, mãi lưu giữ sâu khắc trong trí nhớ người thanh niên này.

Hiền từ, thân thiết, điềm đạm, dạy người niệm Phật, những điều này dường như là ấn tượng đầu tiên của không ít người đối với lão Hòa thượng Hải Hiền.

Một ngày vào năm 1988, một cô gái trẻ và mấy người bạn cùng đến chùa Phật Lai. Cô ấy lúc đó đối với đạo lý Phật pháp đã không có hứng thú, lại cũng không có hiểu biết tí gì, cô ấy có ý muốn xem thử cách sinh hoạt khác, rời bỏ lãnh đạo và đồng nghiệp, âm thầm đến nơi chùa Phật Lai thắp hương.

Lúc cô ấy đến chùa, Hòa thượng Hải Hiền đang làm việc đồng áng. Hôm đó Ngài đã mặc một chiếc áo ngắn rất cũ, gương mặt hiền từ, vui vẻ dễ gần. Lão Hòa thượng vừa tiếp tục công việc đang dở dang, vừa nói chuyện với mọi người, Ngài theo thường lệ khuyên mọi người chăm chỉ niệm Phật, còn nói rất nhiều lợi ích của việc niệm Phật. Cô gái trẻ nhìn lão Hòa thượng, cảm thấy rằng giống như đã nhìn thấy ông nội của mình vậy.

Giống với rất nhiều người, tâm của cô gái trẻ này rất nông nổi, cô ấy cơ bản không đặt những lời nói của Hòa thượng Hải Hiền vào trong tai, trong lòng cô ấy nghĩ: Niệm Phật, là việc của người già, là rất xa vời với người trẻ tuổi chúng tôi.

Giống như người thanh niên tìm lão Hòa thượng thỉnh máy niệm Phật, cô ấy sau nhiều năm, vẫn có thể nhớ rất rõ ràng cảnh tượng lần đầu tiên gặp được lão Hòa thượng Hải Hiền.

Về sau, vẫn không đợi bản thân già đi, cô ấy đã quy y cửa Phật. Hai mươi năm sau, mùa hè năm 2007, vị nữ cư sĩ này và ba người bạn khác cùng đến chùa Phật Lai, đây là lần thứ hai cô ấy thăm hỏi lão Hòa thượng Hải Hiền.

Họ đã đến chùa, chỉ nhìn thấy cửa lớn của chùa đang mở, trong chùa lại  trống vắng không một người. Mấy người kiên nhẫn đợi rất lâu, cuối cùng  cũng đợi được lão Hòa thượng trở về rồi. Thì ra, Ngài một mình liên tục làm việc ngoài đồng đấy! Lão Hòa thượng nói với họ, hiện tại chùa chỉ một mình Ngài sống, “việc đồng áng đến, không làm cũng không được, việc đồng áng không đợi người”.

Trong lòng mấy người đều cảm thấy nặng nề quá! Lão Hòa thượng hơn 100 tuổi rồi, một mình ở đây giữ vững lấy, còn trồng biết bao nhiêu là ruộng! Ngay cả một người bên cạnh chăm sóc cũng không có. Trời nóng như vậy, đã đến trưa rồi, nhưng Ngài vẫn làm dưới ruộng, trở về còn phải tự mình nấu cơm, giặt quần áo, ngay cả một người thanh niên cũng chịu không nổi!

Mấy người đều nói: “Ngài hơn 100 tuổi rồi, vẫn mỗi ngày vất vả chịu khó làm việc như vậy, cuối cùng mưu cầu cái gì chứ? Với tư cách của Ngài, hoàn toàn có thể đến đạo tràng điều kiện tốt để an độ tuổi già đi!”.

Lão Hòa thượng dửng dưng nói rằng: “Người xuất gia nếu giữ không được đạo tràng, chùa của chính mình cũng vứt đi, vậy còn tu hành gì chứ? Chư vị để người ta nói đến, có dễ nghe hay không?”. Mấy người nghe xong, không kìm được sự cung kính nể phục đối với lão Hòa thượng.

Mùa đông năm sau, một ngày trời rất lạnh, lão Hòa thượng một mình đang làm việc trước cổng chùa Thiên Phật. Lúc này, một cư sĩ mà Ngài chỉ gặp  mặt qua hai lần chạy xe đạp từ xa đến, lão Hòa thượng thị lực tốt, trí nhớ cũng đặc biệt tốt, vừa nhìn thấy cô ấy thì tươi cười chào hỏi: “A Di Đà Phật, về rồi! Trên đường lạnh, mau chóng vào trong nhà đi nha!”.

Lão Hòa thượng bất luận nhìn thấy người quen hay không quen, Ngài luôn sẽ chào hỏi trước: “A Di Đà Phật, về rồi!”. Ngài chưa từng ra vẻ ta đây, làm cho tín chúng đến đạo tràng đều cảm thấy ấm áp giống như về đến nhà vậy.

Vị nữ cư sĩ này về sau có một thời gian trú ở chùa Thiên Phật niệm Phật, khoảng thời gian đó, vừa đúng lúc lão Hòa thượng cũng ở đó, cô ấy nhân đây cũng được tiếp xúc với lão Hòa thượng nhiều hơn. Trong mắt của cô ấy, lão Hòa thượng mãi mãi là người bình dị dễ gần, đôn hậu, vui vẻ và tiết kiệm như thế.

Sau Tết Trung Thu năm 2012, chùa Phật Lai ngôi miếu nhỏ an tịnh này bỗng chốc tụ hội tổng cộng 10 vị cư sĩ đến từ các nơi Nam Dương, Lạc Dương, Trú Mã Điếm, Giang Tô và Thiểm Tây v.v…Lúc đó tự viện còn chưa nổi tiếng, cho nên ngày thường rất ít có người đến viếng. Pháp sư Ấn Chí rất vui mừng, bèn nói với mọi người: “Mọi người từ nhiều nơi tập hợp ở chùa Phật Lai, cũng không biết là duyên phận bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp. Cho nên tôi đề nghị mọi người cùng nhau đả Phật thất, có được hay không?”. Mọi người nhất trí tán thành.

Trong đó có một cặp vợ chồng còn dắt theo đứa con trai 5 tuổi của họ đến, đứa trẻ rất tinh nghịch. Lúc mấy vị cư sĩ niệm Phật, lão Hòa thượng thì ở trong liêu phòng vừa xâu chuỗi hạt bo bo, vừa chăm nom đứa trẻ này. Bình thường là lão Hòa thượng không dễ dàng gì xâu được một sợi chuỗi, lại bị đứa trẻ này một nắm xuống đất, làm hạt chuỗi lăn khắp sàn đất. Lão Hòa thượng một chút cũng không nổi giận, nhặt lên từng hạt một, xâu lại từ đầu.

Hòa thượng Hải Hiền tính tình ôn hòa, một đời kính cẩn với người, không ai nhìn thấy Ngài nổi nóng qua, cũng chưa từng thấy Ngài hủy báng, xem thường qua bất kỳ ai. Hòa thượng Hải Hiền một đời chưa từng nói lời vọng ngữ, không những chưa từng nói, ngay cả ngữ khí như vậy cũng chưa từng xuất hiện. Cho nên bất luận nam nữ lão ấu, tại gia xuất gia, gần gũi Hòa thượng Hải Hiền không ai không sinh tâm hoan hỷ.

Ngài từng nhiều lần khuyên bảo các đệ tử: “Thà rằng ăn mặn niệm Phật, không được ăn chay mắng người”.

Quốc sư Hiền Thủ nói đối người phải “nhu hòa chất trực”, chất trực chính là chân tâm, đối người không dùng vọng tâm, dùng chân tâm. Nhu hòa là biểu hiện của từ bi; đối người có lòng yêu thương, nhất định sẽ nghĩ cho người khác nhiều, ít phê bình người khác. Phê bình người rất dễ kết oán thù với người, người nói vô tâm, người nghe có ý, kết oán kết rồi rất khó hóa giải, cho nên không thể không cẩn thận dè dặt. Trong chùa, đều là đặt Bồ Tát Di Lặc (Hòa thượng Bố Đại) ngay trước cổng chính, để người vừa vào thì nhìn thấy một tấm gương học tập, học Ngài tươi cười đón khách, học tấm lòng từ bi của Ngài.

“Ăn chay mắng người” chỉ người ăn trường chay mà mắng người, đối xử không tốt với người. Hòa thượng Hải Hiền một đời không có xem thường bất kỳ ai, không dùng thái độ không tốt đối đãi qua bất kỳ người nào, Ngài nhìn thấy ai đều là hoan hoan hỷ hỷ, từ đáy lòng của Ngài lưu lộ ra là sự từ bi chân thành. Bất luận là đối với người tốt hay là đối với người xấu, Ngài đều cười tít mắt, trong tâm Ngài, không có người này tốt, người kia xấu, cũng không có thích người này, ghét người kia, vĩnh viễn cả thảy bình đẳng, cho nên mỗi người đều thích gần gũi Ngài. Ngài vô cùng hiền hòa, đối với yêu cầu của người khác cũng luôn phương tiện thiện xảo giúp cho thỏa mãn, làm cho người sinh khởi tâm hoan hỷ.

Hòa thượng Hải Hiền đối đãi hết thảy người, sự và vật không có chút ác ý gì. Bạn mạo phạm đến Ngài, Ngài coi như không, Ngài không để trong tâm; bạn nói sai, làm sai trước mặt Ngài, Ngài cũng không có quở trách, Ngài biết được bạn vì sao có thể làm việc không ổn thỏa, Ngài sẽ dạy bạn, sẽ không trách bạn.

Một cư sĩ nhiệt tình, ăn ngay nói thẳng, mô tả bản thân là loại người “đầu óc đơn giản, nói chuyện nghĩ thế nào thì nói thế đó”. Mùa xuân đầu năm 2012, ở Niệm Phật đường Nghĩa Ô, Nam Dương, anh ấy lần đầu tiên nhìn thấy lão Hòa thượng. Anh ấy tuy biết mình có những tật xấu này, nhưng ngày đó lúc nói chuyện vẫn là nghĩ sao nói vậy. Lão Hòa thượng không thích nhất là chỉ trích, phê bình người khác, nhưng lần này lão Hòa thượng vừa gặp mặt thì lại khuyên răn anh ấy: “Con giữ mồm giữ miệng, đừng ăn nói lung tung!”.

Cư sĩ nghe xong câu này, trong lòng nghĩ: Lão Hòa thượng nhìn thấy lỗi lầm của mình, thì lập tức chỉ cho mình thấy, Ngài thật sự đã đối đãi với mình như con của chính Ngài vậy. Nghĩ đến đây, bất giác trong lòng tràn đầy sự cảm kích biết ơn đối với lão Hòa thượng.

Khi ở cùng lão Hòa thượng, anh ấy cảm thấy chính mình thật sự giống một đứa trẻ, anh ấy luôn thích tinh nghịch trước mặt lão Hòa thượng, lúc nào  cũng lần lượt một hỏi lão Hòa thượng: “Ngài đã thấy Phật A Di Đà chưa? Phật có nói qua với Ngài điều gì không?” Lão Hòa thượng mỗi lần cũng đều trả lời giống như đùa với anh ấy vậy: “Lão Phật Gia không cho nói nha!”

Vị cư sĩ này luôn kính yêu lão Hòa thượng Hải Hiền một cách sâu sắc. Sau khi lão Hòa thượng vãng sinh, anh ấy tỉ mỉ nhớ lại những chi tiết lúc ở cùng với lão Hòa thượng, hầu như lão Hòa thượng chưa từng nói qua với anh ấy lời huyền diệu gì, chỉ là dạy anh ấy phải niệm Phật. Anh ấy cuối cùng nhận thức rất rõ ràng rằng: Từ đầu chí cuối, lão Hòa thượng liên tục dạy anh ấy phải lão lão thật thật, ngoan ngoãn niệm Phật.

Tại sao Hòa thượng Hải Hiền có thể thường xuyên thấy được Thế giới Cực Lạc, thường xuyên thấy được Phật A Di Đà? Trong tâm Ngài không có tạp niệm, Ngài sớm đã buông bỏ tất cả người, việc và vật của thế gian này rồi, cho nên được đại tự tại trong tùy duyên. Bên trong tùy duyên lưu lộ ra là trí tuệ, Ngài không có phiền não.

Lão Hòa thượng Hải Hiền một đời dùng chân tâm. Ngài dùng chân tâm đối người tiếp vật trong cuộc sống hằng ngày. Chân tâm là chân thành tâm mà chính mình tự có, trong chân tâm không có một chút hư ngụy nào, không có một chút dối gạt nào – không tự gạt, cũng không gạt người. Đứa trẻ lúc vừa mới sinh ra, hoàn toàn dùng chân tâm, cho nên mỗi người đều đã từng dùng chân tâm, thật đáng tiếc là, chân tâm bị môi trường ô nhiễm rồi, sau khi ô nhiễm thì làm sao cũng không thể quay đầu, mãi dùng đến già chết. Không dùng chân tâm thì dùng vọng tâm, vọng tâm niệm niệm đều là tạo nhân luân hồi, cho nên sau khi chết đi thì luân hồi ở trong sáu đường, vĩnh viễn không ra được. Đây là một việc vô cùng bi thảm.

Tất cả người, việc, vật mà lão Hòa thượng từ sáng đến tối nhìn thấy, không có gì là Ngài chán ghét, không có gì là Ngài không thích cả, Ngài luôn hòa hợp êm thấm, nét mặt tươi cười đối với bất kỳ người, việc hay vật nào. Ngài hằng thuận chúng sinh, trước nay chưa từng nói “Tôi phải làm gì”.

Đối nhân xử thế của thế gian tùy thuận thì tốt, như vậy có thể làm cho mọi người sinh tâm hoan hỷ. Thế bản thân trong đó có được lợi ích hay không chứ? Có lúc có, có lúc tuyệt nhiên không có, bất kể có hay không có đều vui vẻ.

Mỗi lúc cư sĩ hộ pháp sắp xếp cho lão Hòa thượng tham gia hoạt động gì, Ngài chưa từng khước từ, Ngài không nghĩ cho bản thân, chỉ nghĩ rằng để chúng sinh sinh tâm hoan hỷ. Nếu như là tham gia pháp hội phóng sinh quy mô lớn, lão Hòa thượng bao giờ cũng chuẩn bị xong sớm tăng phục và pháp khí, ăn mặc rất sạch sẽ gọn gàng đến hiện trường pháp hội sớm hơn. Bất luận thời gian phóng sinh kéo dài đến bao lâu, lão Hòa thượng lúc nào cũng tươi vui, mà lại không mất đi vẻ trang trọng và uy nghi.

Ở trong đoàn người, lúc có người cúi chào hoặc cúng dường lão Hòa thượng, bao giờ Ngài cũng nét mặt ân cần, hòa nhã thân mật, làm cho mỗi cư sĩ đều cảm nhận sự ấm áp và hạnh phúc vô cùng. Cúng dường tiền bạc cho Ngài, toàn bộ Ngài để lại chùa hoặc Phật đường phía bên thỉnh mời, làm kinh phí phóng sinh hoặc ấn tống kinh sách. Lúc phóng sinh chim, lão Hòa thượng sẽ tự tay mở lồng chim, dùng ánh mắt tràn đầy từ bi nhìn con chim bé bỏng, từng con lại đến từng con bay về rừng cây, bay lên trời xanh, trên gương mặt đầy những nếp nhăn của Ngài lúc này dạt dào nét ôn hòa và đôn hậu! Thần thái và từ bi của Ngài lúc nào cũng có thể rung động mọi người đang có mặt.

Toàn bộ hoạt động phóng sinh thường thường phải từ sáng sớm liên tục kéo dài đến một hai giờ chiều, người trẻ cũng có thể cảm thấy hơi mệt, nhưng lão Hòa thượng Hải Hiền hơn 100 tuổi lại tinh thần sung mãn suốt, nhận không ra Ngài có một chút phiền chán và mệt mỏi gì.

Một số người gặp được lão Hòa thượng đều muốn một mình chụp hình  chung với Ngài, lão Hòa thượng trước giờ chưa từng từ chối, ngược lại còn chủ động phối hợp, cố gắng hết sức thỏa mãn ý muốn của đại chúng. Ngài từ đầu đến cuối giữ nguyên nét tươi cười, không ngại phiền phức chụp hình chung lưu niệm với từng tốp cư sĩ, hoặc chụp riêng với một người, hoặc chụp với nhiều người, hoặc chụp bức ảnh gia đình, Ngài có lòng nhẫn nại, Ngài không sợ mệt, mọi người đều rất thích Ngài.

Mấy tiếng đồng hồ liên tiếp, không có nghỉ ngơi, đừng nói là người hơn 100 tuổi rồi, ngay cả người trẻ tuổi cũng sẽ chịu không nổi đấy. Một lần, hoạt động kết thúc rồi, vị cư sĩ Nam Dương ăn ngay nói thẳng kia lái xe đưa lão Hòa thượng về Niệm Phật đường. Lúc xuống xe, lão Hòa thượng e ngại nói với anh ấy: “Đã làm ướt hết xe của con rồi…”

Cư sĩ  hỏi Ngài: “Làm sao ạ?”
Ngài  nói: “Tiểu ra quần rồi…”

Thì ra, hiện trường hoạt động không có nhà vệ sinh, sau hoạt động mọi người dồn dập đến chụp ảnh chung với lão Hòa Thượng, để thỏa mãn ý muốn của đại chúng, lão Hòa thượng nhịn suốt. Cư sĩ ngay tức khắc cảm thấy xấu hổ và áy náy vô cùng, nước mắt bất chợt chảy ra: Chúng ta không thật sự dùng tâm thông cảm chút nào cho một người già trên 100 tuổi này rồi!

Lão Hòa thượng Hải Hiền không chỉ là đối nhân xử thế tùy thuận người thế gian, Ngài thực ra là một người hết sức hiểu rõ tình người.

LÃO HÒA THƯỢNG HẢI HIỀN MỘT ĐỜI, NHIỀU LẦN ẤN CHỨNG CHO BI NGUYỆN CỦA QUÁN ÂM BỒ TÁT THẬT SỰ KHÔNG GIẢ DỐI.

Lúc Hòa thượng Hải Hiền 12 tuổi, cha qua đời. Ngài vì muốn giảm nhẹ áp lực cho mẹ, ra ngoài xin cơm 3 tháng. Tấm lòng hiếu thảo này của Ngài cảm được ông chủ tiệm cơm đã thuê mướn Ngài, Ngài từ 13 tuổi đến 18 tuổi thời gian 5 năm này, liên tục làm công ở tiệm cơm này. Ông chủ luôn chiếu cố cả nhà Hòa thượng Hải Hiền, cho nên Hòa thượng Hải Hiền hết sức cảm ân ông ấy, mãi cũng không quên, tuy đã xuất gia, mỗi lần về quê luôn nhớ đi thăm người chủ lúc ban sơ này.

Mùa thu năm 1938, Hòa thượng Hải Hiền trở về quê nhà xử lý công việc. Con rể của ông chủ lúc này đang học ở Nam Dương, cần người nhà gửi cho anh ấy một số quần áo mùa đông và số đồ dùng sinh hoạt, thế nhưng trong nhà của ông chủ có việc, không rời khỏi được, thế là bèn nhờ Hòa thượng Hải Hiền giúp đỡ mang quần áo và đồ dùng hằng ngày đưa đến Nam Dương.

Ngày Hòa thượng Hải Hiền đến được Nam Dương, đúng lúc gặp phải quân Nhật điều động 40 phi cơ oanh tạc thành phố Nam Dương. Ngài không sợ hãi, ngồi dưới một góc tường, chuyên tâm niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát”. Bấy giờ có bảy chiếc phi cơ lượn vòng trên đỉnh đầu của Ngài, thay phiên nhau ném bom xuống, tình hình rất là nguy hiểm, nhưng Hòa thượng Hải Hiền không một mảy may bị tổn thương. Kinh nói: “Thế gian thiện nam tử, thiện nữ nhân, nhược hữu cấp nạn khủng bố, đản tự quy mạng Quán Thế Âm Bồ Tát, vô bất đắc giải thoát giả”, cả đời lão Hòa thượng Hải Hiền, nhiều lần ấn chứng cho bi nguyện của Bồ Tát thật sự không giả.

Đầu thu năm 2008, Trương lão thái thái 88 tuổi đến chùa Phật Lai, bà đi thăm lão Hòa thượng Hải Hiền. Trương lão thái thái ở trong chùa hai ba tháng, bởi vì có bệnh tiểu đường, cho nên bà mỗi ngày phải ăn bảy tám bữa cơm, lão Hòa thượng đặc biệt sắp xếp Pháp sư Ấn Vinh chuyên chăm sóc sinh hoạt hằng ngày cho bà.

Cha của Trương lão thái thái lớn hơn lão Hòa thượng hai tuổi, là bạn chơi chung lúc nhỏ với lão Hòa thượng, Trương lão thái thái ra đời vào năm lão Hòa thượng Hải Hiền đã xuất gia, cha và con gái hai thế hệ người nhà này cuối đời duy trì mối liên hệ với lão Hòa thượng. Pháp sư Ấn Vinh chỉ cảm thấy rằng rung động đặc biệt: Đã nói: “Hoa vô bách nhật hồng, nhân vô thiên nhật hữu”, vậy mà bạn bè của lão Hòa thượng một khi kết giao đâu chỉ là một thế hệ người chứ!

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter