Lão Hòa Thượng Hải Hiền 112 tuổi tự tại Vãng Sinh

Chương 34: Lão Hòa Thượng Và Đệ Tử Của Ngài

trước
tiếp

Trong số đệ tử của lão Hòa thượng Hải Hiền có rất nhiều vị đều vô cùng ưu tú, các đệ tử của Ngài sau khi xuống núi chia đều ra Đại Giang Nam Bắc, Ngũ Đài Sơn, Phổ Đà Tự, Thiếu Lâm Tự, Bạch Mã Tự, Minh Sơn Cổ Sát, đều có đệ tử của Ngài truyền thừa sư đạo, hoằng pháp lợi sinh, vả lại đa số đều  chịu trách nhiệm phụ trách việc chính trong đạo tràng tự viện, như Pháp sư Ấn Tùng thủ tọa Thiếu Lâm Tự mà nhiều người biết đến, là lão Hòa thượng Hải Hiền thế độ; lại như Pháp sư Ấn Tòng khôi phục Lưỡng Tọa Cổ Sát ở Nam Dương, cũng là đệ tử của lão Hòa thượng. Ở đây chỉ ghi nhận câu chuyện cuối đời của lão Hòa thượng và vài vị đệ tử.

 Pháp sư Ấn Chí

 

Hiện tại người trụ trì chùa Phật Lai là Pháp sư Ấn Chí – người tiếp nối của lão Hòa thượng, mùng 3 tháng 3 âm lịch năm 1986 Ngài và lão Hòa thượng Hải Hiền quen biết. Lúc đó, Ngài vẫn chưa xuất gia.

Trước mấy ngày quen biết lão Hòa thượng, Ngài phát hiện một cháu trai   đồng tộc với Ngài, cũng là bạn chơi đùa của Ngài lúc nhỏ, không ăn thịt uống rượu cùng Ngài nữa. Ngài theo hỏi cho đến cùng, thì ra người ta đã quy y Tam Bảo dưới tòa của lão Hòa thượng Hải Hiền ở chùa Phật Lai, thọ năm giới. Pháp sư Ấn Chí chịu ảnh hưởng của người mẹ cả đời ăn chay niệm Phật, không những không phản cảm đối với học Phật, mà còn hướng vào đó. Chính là một nhân duyên như vậy, Ngài chơi chung với cháu trai đồng tộc, mấy ngày sau cùng nhau đến chùa Phật Lai xin quy y.

Pháp sư Ấn Chí vừa gặp lão Hòa thượng Hải Hiền, thì cảm giác như gặp được người thân, trong mắt của Ngài, lão Hòa thượng thân thiết, từ bi, lương thiện làm sao. Sau ngày hôm đó, chỉ cần vài ngày Ngài không đến tự viện, không gặp được lão Hòa thượng, thì cảm thấy nhớ, trong lòng rất nôn nóng. Thế là cứ cách mười ngày đến nửa tháng, thì Ngài đến tự viện một lần, khi đó nhà của Ngài vẫn chưa có xe đạp, mỗi khi đi bộ đều mất hai ba tiếng đồng hồ.

Tháng 9 năm 1987, vì bận việc đồng áng, Pháp sư Ấn Chí đã 3 tháng rồi không đến thăm lão Hòa thượng. Vào buổi sáng ngày này, Pháp sư Ấn Chí đang ăn sáng với hàng xóm ở bên ngoài, chỉ thấy lão Hòa thượng đang nâng cái gùi đi về hướng của Ngài. Pháp sư Ấn Chí để chén đũa xuống, nhanh chóng chạy qua đó. Ngài khấu đầu với lão Hòa thượng, rồi hỏi: “Thầy đang đi đâu vậy?”

 “Đến thăm con đó!”

Pháp sư Ấn Chí nắm chặt lấy tay của lão Hòa thượng, cảm động đến rơi nước mắt và hỏi: “Sư phụ, thầy đến đây có việc gì sao?”.

“Không có gì, đến thăm con, lâu rồi con không đến tự viện, xem con đang bận làm gì, có lười biếng niệm Phật không”.

Làm phiền một vị lão Hòa thượng 87 tuổi đặc biệt đường xa để đến thăm Ngài, Pháp sư Ấn Chí liền cảm thấy muôn phần hổ thẹn.

Sau khi Pháp sư Ấn Chí xuất gia ở chùa Phật Lai, lão Hòa thượng Hải Hiền nói với Ngài: “Ở đây chúng ta chuyên tu niệm Phật, không làm kinh sám Phật sự. Chẳng thà không có chùa, không thể không có đạo; chẳng thà không có người, không thể không có Pháp”.

Khi mới bắt đầu ở đạo tràng, Pháp sư Ấn Chí cảm thấy rất mới lạ, vì vậy tu học rất tinh tấn, nhưng thời gian lâu rồi, thì cảm thấy đơn điệu nhàm chán rồi, Ngài không nhịn được muốn ra ngoài chuyển đổi, muốn tìm một con đường tắt khác. Hình như lão Hòa thượng nhìn ra suy nghĩ của Ngài, nói với Ngài: “Tìm nam chạy bắc, không bằng giữ ngôi chùa nhỏ”. Nhưng Pháp sư Ấn Chí nghe không vào tai những lời của sư phụ, thế là Ngài rời khỏi sư phụ, đến các tự viện khác tham học rồi. Trải qua năm sáu năm tham học, Ngài mới phát hiện nhiều năm tu hành của mình đều phí công vô ích, Ngài hoàn toàn thất vọng.

Năm 2003, trong lúc thất vọng cực độ, Ngài nhớ đến lời giáo huấn của sư phụ, sau đó Ngài trở về bên cạnh sư phụ, sám hối với sư phụ. Lão Hòa thượng Hải Hiền không hề có một câu trách tội, Ngài nhìn Pháp sư Ấn Chí và Pháp sư Ấn Hàm, ôn tồn mà nói: “Nếu như các con không muốn ở chùa Phật Lai, có thể đến núi Đồng bách, chùa Tháp Viện cũng là đạo tràng của ta, bên đó hoàn cảnh tốt hơn bên này”. Lão Hòa thượng lấy mấy ngàn ra mời người giúp đỡ mua một cái máy cày, để cày bừa cho hai vị dùng. Nhưng mà, khi hai vị đến chùa Tháp Viện ở không bao lâu, thì chê đất núi quá dốc, rủ nhau “bỏ trốn” rồi.

Lão Hòa thượng Hải Hiền vẫn không trách tội hai đệ tử, Ngài lại đích thân đưa Pháp sư Ấn Hàm và Ấn Chí đến chùa Thiên Phật, dặn dò phải siêng  năng tu hành, chấn hưng đạo tràng cổ có hai ngàn năm lịch sử này. Không lâu sau, Pháp sư Ấn Chí cũng đi theo đến chùa Thiên Phật ở lại lâu dài.

Ngày 18 tháng 8 năm 2007 đại thọ Lão Hòa thượng Hải Hiền 107 tuổi, Pháp sư Ấn Chí về đến chùa Phật Lai chúc thọ sư phụ. Lão Hòa thượng gặp Ngài rồi, chảy nước mắt nói: “Ấn Chí, con đừng đi nữa, ta đã qua trăm tuổi  rồi, cũng không sống được mấy năm nữa, nhưng mà đến bây giờ tự viện vẫn chưa tìm được người tiếp nối thích hợp, con đừng đi nữa”. Nhìn thấy nước mắt rơi đầy mặt sư phụ, Pháp sư Ấn Chí thật không nhẫn tâm cự tuyệt, bèn ở lại bên cạnh sư phụ tận hiếu.

Từ lần đầu tiên Ngài gặp lão Hòa thượng Hải Hiền, đến bây giờ, đã 21 năm rồi.

Mùa thu năm 2008, trước sự chứng kiến của các vị cư sĩ hộ pháp trong thôn, lão Hòa thượng trịnh trọng giao phó lại chùa Phật Lai cho đệ tử của Ngài Pháp sư Ấn Chí. Lão Hòa thượng nói: “Tuổi tác ta lớn rồi, đến lúc phải buông bỏ rồi, chùa Phật Lai giao lại cho con, ta yên tâm, sau này con phải làm thật tốt”.

Pháp sư Ấn Chí quỳ trước mặt sư phụ nói: “Sư phụ, xin thầy yên tâm, con nhất định không để thầy thất vọng, con sẽ khắc ghi lời dạy của thầy, một  câu “A Di Đà Phật” niệm đến cùng, tận phận trách nhiệm bản thân, tùy duyên độ chúng, tiếp tục truyền thừa truyền thống tốt đẹp của chùa Phật Lai!”

Về chuyện quản lý tự viện, lão Hòa thượng thường khai thị nói: “Đừng sợ không có chùa, chỉ sợ không có đạo. Chẳng thà không có người, không thể không có pháp”. “Con không đến ta không trách, đến rồi thì phải thọ giới của ta”.

Ngài lại dặn dò Pháp sư Ấn Chí “Không sợ không có chùa, chỉ sợ không có đạo”, còn nói: “không điếc không mù, không xứng đáng trụ trì”, ý nghĩa của câu nói này là để Pháp sư Ấn Chí có thể nhịn, còn phải nhường, không thể giống như người khác được.

Tự viện giao cho Pháp sư Ấn Chí, công việc mỗi ngày của lão Hòa thượng Hải Hiền là lao động, niệm Phật. Một năm trước khi lão Hòa thượng vãng sinh, từng nói với một vị cư sĩ: “Tôi không biết chữ, sao làm trụ trì? …… Bây giờ tôi chỉ biết niệm Phật của tôi”.

Pháp sư Ấn Chí thật là một đại hiếu tử. Tháng 11 năm 2011, lão Hòa thượng sinh bệnh, Pháp sư Ấn Chí suy xét đến tuổi tác của sư phụ đã lớn, cân nhắc cẩn trọng, Ngài đưa lão Hòa thượng đến bênh viện nhân dân thứ hai huyện Xã Kỳ trị liệu. Trong thời gian trị liệu, Pháp sư Ấn Chí luôn túc trực bên cạnh chăm sóc cho ân sư. Lão Hòa thượng chột bụng, đại tiện làm dơ hết quần áo,

Pháp sư Ấn Chí như hầu hạ cho cha mẹ của mình mà lau chùi cho lão Hòa thượng, Ngài đút từng muỗng từng muỗng cho lão Hòa thượng ăn, còn không ngừng thăm hỏi ân cần.

Lão Hòa thượng nằm trên giường bệnh miệng vẫn không ngừng niệm “A Di Đà Phật”.

Lão Hòa thượng ở bệnh viện vài ngày. Những ngày này, Pháp sư Ấn Chí không làm sao chợp mắt được. Đợi khi bệnh tình của mình chuyển biến tốt rồi, lão Hòa thượng nói với Pháp sư Ấn Chí: “Ta không sao rồi, con cũng nghỉ ngơi đi!”. Pháp sư Ấn Chí cảm động mà nói: “Sư phụ à, sức khỏe của thầy quan trọng, con không dám lơ là. Chỉ cần sức khỏe của thầy tốt rồi, thì chính là phúc báu của con! Con mong mỏi thầy sớm hồi phục, chúng ta về tự viện!”. Khi Pháp sư Ấn Chí nói câu này, lệ lưng tròng mắt, những cư sĩ ở đó cũng vì vậy mà xúc động.

Cho đến khi lão Hòa thượng hồi phục xuất viện, Pháp sư Ấn Chí mới thở phào nhẹ nhõm.

Sau khi lão Hòa thượng Hải Hiền vãng sinh, Pháp sư Ấn Chí vô cùng xúc động mà nói với lão Pháp sư Tịnh Không mà Ngài tôn kính rằng: “Sư phụ đi rồi, nhớ lại nhất ngôn nhất hành của sư phụ, thật sự đáng kính! Khi sư phụ còn, chúng con đều kính phục đến năm vóc sát đất; sau khi sư phụ đi rồi, hồi tưởng lại nhất ngôn nhất hành, nhất cử nhất động, thật sự bất giác mà rơi lệ”.

Trong phòng thu âm mỗi ngày giảng kinh của lão Pháp sư Tịnh Không, đã  treo một tấm hình của lão Hòa thượng Hải Hiền. Một ngày tháng 8 năm 2014, Pháp sư Ấn Chí đến Hong Kong bái kiến Pháp sư Tịnh Không, khi Ngài nhìn thấy tấm đức tướng của lão Hòa thượng Hải Hiền trong phòng thu âm, liền khóc rưng rức. Nhìn qua có thể thấy được sự kính yêu của đệ tử đối với sư phụ.

Sau khi lão Hòa thượng Hải Hiền vãng sinh, vì việc ghi chép lại phẩm hạnh cho sư phụ, lưu truyền hậu thế, Pháp sư Ấn Chí cùng với một nhóm người, trèo đèo lội suối, men theo dãy núi Đồng Bách, tìm kiếm dấu chân mà lão Hòa thượng đã đi qua. Có khi họ đi ở những vách núi dựng đứng, bất chợt gặp gió lớn, sức gió mãnh liệt, nếu không để ý thì bị thổi xuống dưới vách núi, lúc này họ chỉ có thể bám vào nham thạch trên đường trèo về phía trước. Tuy rằng cực nhọc, nhưng thu thập được không ít tư liệu đáng quý.

Theo sau, cùng có không ít những đệ tử Phật thân cận với lão Hòa thượng, viết văn chương chăm chút từng li từng tí hồi ức sự gặp gỡ với lão Hòa thượng, Pháp sư Ấn Chí lại vì mọi người chỉnh sửa lại những văn chương này để cúng dường đại chúng. Những tư liệu này vô cùng quý giá, có thể  giúp đỡ những người học Tịnh tông kiên định tín tâm.

 Pháp sư Ấn Hàm

 

Một vị đệ tử khác của lão Hòa thượng Hải Hiền, Pháp sư Ấn Hàm trụ trì của chùa Thiên Phật trước khi xuất gia từng là một người thân mang bệnh tật, mất hết lòng tin đối với cuộc sống.

Trước kia, Ngài đã từng gặp những sự cố suýt chút mất mạng, nhưng những sự cố này không làm Ngài ý thức được là đến lúc phản tỉnh lại chính mình rồi. Năm 1982, Ngài lại bị trúng gió (trong y học gọi là “đứt mạch máu não”).

Đến năm 1989, bệnh tình của Ngài không những không thuyên giảm, ngược lại còn nghiêm trọng hơn. Vào lúc này, có người tặng có Ngài một quyển “A Di Đà Kinh giải thích bạch thoại” và một quyển sách nhỏ “Thiện Tài Đồng Tử 53 tham”. Trước đó, Ngài chịu ảnh hưởng của thuyết vô thần, cái gì cũng không tin, cũng chưa từng đến mộ tế bái tổ tiên, càng không tới chùa chiền thắp nhang lạy Phật, nhưng lần này, Ngài tiếp nhận rồi. Khi đọc “A Di Đà Kinh giải thích bạch thoại” đến trang thứ 17, Ngài bắt đầu tin thật sự có Thế giới Cực Lạc, thế nên Ngài hạ quyết tâm phải học Phật cầu sinh Cực Lạc.

Ngài có đứa em gái ruột vào năm 1985 đã đến chùa Phật Lai dưới tòa của  lão Hòa thượng Hải Hiền thế độ làm ni, Pháp sư Ấn Hàm xin vị ni đó nói tình trạng của bản thân với lão Hòa thượng Hải Hiền. Lão Hòa thượng rất dứt khoát đồng ý nhận Ngài làm đệ tử. Ngài thật thà mà nói với lão Hòa thượng: “Con đã không có tiền, cũng không thể làm việc, chỉ có thể tự mang theo một ít lương thực”.

Qua mùa xuân năm 1990, người nhà đưa Ngài đến chùa Phật Lai, trong xe còn đem theo 400 cân lúa mì và 100 cân ngô. Ngài quy y Tam Bảo, chẳng bao lâu thì thế độ xuất gia rồi.

Chùa Phật Lai có ruộng đất, mỗi ngày lão Hòa thượng Hải Hiền đều ra ruộng làm việc nông. Tuy rằng Pháp sư Ấn Hàm tự đem theo một ít lương thực, nhưng mà mỗi khi đến lúc ăn cơm, Ngài vẫn cảm thấy bất an. Ngài liền nói với lão Hòa thượng: “Chén cơm này con không thể ăn, con muốn về nhà”.

Lão Hòa thượng Hải Hiền an ủi Ngài rằng: “Đã đến đây rồi, thì đừng về nữa”. Bèn nói với Ngài: “Trong lúc nửa đêm không có người con có thể một mình đi ra chính điện lạy Phật, cầu sám hối, phát đại nguyện, nguyện lực của con lớn hơn nghiệp lực, thì tự nhiên có thể thay đổi vận mệnh”.

Pháp sư Ấn Hàm nghe lời của sư phụ, mỗi đêm trước 12 giờ Ngài một mình ra chính điện lạy Phật, sám hối. Ngài quỳ trước tượng Phật Bồ Tát nói hết tất cả những ác nghiệp mà bản thân đã tạo, sám hối từ tận đáy lòng, Ngài thường khóc rưng rức. Ngài phát thệ đời này tuyệt đối không hoàn tục, và phát nguyện thời thời khắc khắc phải làm hình tượng tiêu chuẩn của người xuất gia, cả đời vì Phật vinh quang, tuyệt đối không để nhà Phật mất mặt, nguyện vì chúng sinh cống hiến tất cả, chỉ lo làm ruộng, không hỏi thu hoạch.

Pháp sư Ấn Hàm đối với ngôn truyền thân giáo của lão Hòa thượng ghi nhớ sâu sắc. Có lần, lão Hòa thượng để Ngài dùng đôi đũa nhúng qua trong một hũ dầu mè 50 cân, dùng để trộn rau trộn. Sự tiết kiệm của lão Hòa thượng, Ngài nhìn bằng mắt, ghi nhớ trong lòng. Sau đó nhiều năm, khi nhắc đến việc này, Ngài vẫn còn rất xúc động, nói:”Chỉ dựa vào điểm này, tôi bái phục thầy cả một đời! Những năm nay tôi tận lực học tập sự cần kiệm của sư phụ, nhưng bây giờ về phương diện cần cù tôi còn nói được, nhưng về tiết kiệm, vẫn còn rất xa không thể so với sư phụ”.

Năm 2004 Pháp sư Hải Hiền đích thân đưa Ngài và Pháp sư Ấn Chí (tức hai anh  em) đến chùa Thiên Phật,  còn dặn dò Ngài nói: “Ở đây rất gian  khổ, giống như tay trắng dựng cơ đồ. Tự viện cổ xưa, nếu như không thật tu hành, vậy thì không thể ở lại được nữa, Thần Hộ Pháp sẽ gây phiền phức. Ta hy vọng hai anh em con phải thật tu thật làm, nếu như tụi con có phúc báu, chùa Thiên Phật sẽ hưng thịnh lại đó”.

Chùa Thiên Phật Huyện Xã Kỳ được kiến lập vào năm thứ sáu Vĩnh Bình thời Đông Hán (năm 63 công nguyên), còn sớm hơn 4 năm so với chùa Bạch Mã ở Lạc Dương mà Đông Hán Vĩnh Bình xây dựng vào năm thứ 10. Thời kỳ “Văn Cách”, chùa Thiên Phật bị hủy hoại nghiêm trọng, gian phòng của tự viện thuộc về trường học sử dụng nhiều năm, cho đến năm 2006 mới trả toàn bộ về cho tự viện. Sau này khi Pháp sư Ấn Hàm ở tự viện đào đất trồng rau còn đào được một miếng gạch thời hán, trên đó khắc bốn chữ “Sáu năm Vĩnh Bình”.

 Pháp sư Ấn Vinh

 

Năm 2007, Sau một lần Phật thất viên mãn Pháp sư Ấn Vinh người đã học Phật nhưng chưa xuất gia, đảnh lễ đức tướng của lão Pháp sư Tịnh Không, khi Ngài lạy đến lạy thứ hai, trong tâm phát nguyện: cầu sư phụ thượng nhân gia trì con có thể tìm được một vị minh sư và một đạo tràng Tịnh Tông   thuần chính, con muốn chuyên tâm tu hành. Không lâu sau, có người giới thiệu Ngài đến chùa Phật Lai huyện Xã Kỳ lễ nhục thân Bồ Tát Pháp sư Hải Khánh. Đến chùa Phật Lai, Ngài đã gặp được lão Hòa thượng Hải Hiền.

Ngài vừa nhìn thấy lão Hòa thượng, tức khắc sinh vô lượng hoan hỷ. Ngài bái cầu lão Hòa thượng nhận Ngài làm đệ tử. Lão Hòa thượng không từ chối. Ba ngày sau, lão Hòa thượng vui mừng mà nói với Ngài: “Quán Âm Bồ Tát nói với thầy, vẫn còn một đệ tử đến đây, sau đó thì con đến rồi”. Khi đó Pháp sư Ấn Vinh nghe xong không để tâm lắm, Ngài còn tưởng lão Hòa thượng đang nói sảng.

Lúc này, người nông dân bên cạnh nói với Ngài: “Lão Hòa thượng này, thật không đơn giản! Có lần trong thôn đang khoan giếng, khoan mấy ngày rồi vẫn không có nước, lão Hòa thượng đến nhìn, rồi dùng gậy chỉ một nơi khác nói: Quý vị khoan ở đây, ở đây có nước tốt. Mọi người làm theo lời của lão Hòa thượng khoan giếng, quả nhiên rất nhanh khoan được nước rồi”.

Từ đó về sau, Pháp sư Ấn Vinh chứng kiến rất nhiều việc bất khả tư nghì của lão Hòa thượng.

Cuối năm 2009, Pháp sư Ấn Vinh tự mình đi đến đạo tràng xưa của chùa  Viên Minh đã bỏ hoang nhiều năm, Ngài nhìn thấy một cảnh tượng hoang vắng đổ nát, Ngài bèn phát tâm khôi phục đạo tràng, ở đây hoằng dương Pháp môn Tịnh độ.

Chùa Viên Minh thành lập thời triều Kim, có gần 800 năm lịch sử, Minh, Thanh, Dân Quốc đều có trùng tu. Khi lão Hòa thượng Hải Hiền hơn 30 tuổi từng đến chùa Viên Minh tham học, lúc đó tự viện vô cùng hưng thịnh, có hơn 200 Tăng chúng thường trụ. Sau này, trong cuộc “Văn Cách” tự viện bị hư hại.

Chùa Viên Minh cách chùa Phật Lai khoảng 100 km, bởi vì chùa Viên Minh chỉ có một mình Pháp sư Ấn Vinh, còn có một vị làm cơm lớn tuổi, vì vậy  Ngài không thể thường xuyên về thăm lão Hòa thượng Hải Hiền. Vì báo ân  sư phụ, cứ cách khoảng thời gian Pháp sư Ấn Vinh sẽ đón lão Hòa thượng qua đó ở một thời gian ngắn.

Hai ba năm trước khi lão Hòa thượng vãng sinh, phàm là những tự viện Ngài đã kiến lập hoặc là tự viện mà các đệ tử trụ trì, Ngài đều phải đến ở một thời gian, đặt biệt phải đến chùa Viên Minh, một là vì nơi này chỉ có một người xuất gia Pháp sư Ấn Vinh, vả lại cũng xuất gia không lâu, hai là vì điều kiện tự viện quá gian khổ. Lão Hòa thượng từng nói với một vị cư sĩ: “Tự viện này đặc biệt nghèo! Tôi qua ở, hương hỏa ở đó sẽ hưng chút”.

Pháp sư Ấn Vinh rất tận tâm, nghĩ đến việc lão Hòa thượng ở trên lầu đi vệ sinh không thuận tiện, bèn đặc biệt xây một căn phòng nhỏ có nhà vệ sinh.

Lão Hòa thượng vẫn luôn kiên trì thức dậy rất sớm để lạy Phật niệm Phật, khi ở chùa Viên Minh cũng như vậy. Căn phòng nhỏ của Ngài mỗi ngày vào lúc người khác công phu buổi sáng thì đèn đã sáng, tiếp đó có thể nghe được Ngài trong tự viện niệm “A Di Đà Phật”. Lão Hòa thượng giống như trì Kim Cang, mỗi lần thời gian niệm Phật lên tiếng không lâu, nhưng mà mỗi sáng trong tự viện đều nghe được tiếng của Ngài kinh hành niệm Phật thời gian rất dài.

Mỗi ngày sau bữa ăn sáng, lão Hòa thượng bắt đầu tìm việc để làm, thường làm thì vài tiếng đồng hồ.

Lão Hòa thượng và Pháp sư Ấn Vinh ở tự viện khai phá đất hoang, khi lão Hòa thượng nhìn thấy Pháp sư Ấn Vinh muốn làm việc, Ngài đều nói: “Con không cần làm nữa, đi niệm Phật đi!”

Pháp sư Ấn Vinh nói: “Sư phụ à! Làm sao có thể kêu thầy hơn 100 tuổi đi làm việc, người thanh niên chúng con ngược lại đi trốn nhàn rỗi thế?”.

Lão Hòa thượng nói: “Con niệm Phật không niệm ra công phu, vì vậy phải niệm nhiều. Niệm đến mức độ nhất định, cho dù lúc nào cũng đang niệm Phật. Khi làm việc ta không làm lỡ việc niệm Phật được!”

Lão Hòa thượng thường nói với Pháp sư Ấn Vinh: “Đừng nhìn ta đang làm việc, ta lúc nào cũng đang niệm Phật trong tâm đó”.

Lão Hòa thượng lúc nào cũng vậy, để mọi người đi niệm Phật, mà chính Ngài thì đi làm việc.

Vào một ngày mùa hè năm 2010, chùa Phật Lai đang làm Pháp Hội tam thời hệ niệm, đột nhiên bị cúp điện. Một số cư sĩ chịu không được sự oi bức trong niệm Phật đường, đã lui ra hóng gió, lại nhìn thấy trên vai lão Hòa thượng Hải Hiền đeo cái túi dụng cụ, khiêng một cái thang dài từ tháp viện đi đến. Lão Hòa thượng để cái thang tựa vào tường, leo lên trên, lấy dụng cụ ra bắt đầu làm việc. Sau đó một lúc, thật sự sửa điện xong rồi. Vào lúc lão Hòa thượng khiêng cái cầu thang chuẩn bị về tháp viện, có cư sĩ tới muốn giúp đỡ, lão Hòa thượng xua tay, cười tít mà nói: “Quý vị tiếp tục niệm Phật đi! Tôi ở đó không nghe thấy tiếng niệm Phật, thì biết dây điện lại hư rồi”.

Lão Hòa thượng đặc biệt quan tâm đến đệ tử, Ngài rất xem trọng công phu sáng tối, hầu như mỗi ngày lão Hòa thượng đều có ý vô ý mà hỏi Pháp sư Ấn Vinh hai lần: “Công phu chưa?”. Tuy rằng là câu nói bình thường, câu nói này vẫn luôn khích lệ Pháp sư Ấn Vinh dũng mãnh tinh tấn. Sau này, mỗi khi Ngài giải đãi, thì hình như nghe được tiếng sư phụ đang hỏi Ngài: “Công phu chưa?”

Pháp sư Ấn Vinh đặc biệt kính yêu sư phụ của Ngài, tâm hiếu của Ngài đối với lão Hòa thượng cũng làm Pháp sư Ấn Chí bội phục, tán thán.

Pháp sư Ấn Chí, Pháp sư Ấn Hàm và Pháp sư Ấn Vinh phân ra trụ trì ba đạo tràng, sau khi lão Hòa thượng vãng sinh đều bày tỏ: đạo tràng sau này đời đời kiếp kiếp đều phải chuyên tu chuyên hoằng Pháp môn Tịnh độ, tuyệt đối không phụ lòng sự dạy dỗ ân cần và sự kỳ vọng tha thiết của ân sư, đem việc tốt đẹp truyền thống của lão Hòa thượng tiếp tục truyền thừa, tu tốt lục hòa kính, lấy giới làm thầy, lấy khổ làm thầy, “một ngày không làm, một ngày không ăn”.

 


Bạn có thể dùng phím mũi tên để lùi/sang chương. Các phím WASD cũng có chức năng tương tự như các phím mũi tên.
Flag Counter